CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ HOẠCH KINH DOANH QUỐC TẾ

Kinh doanh quốc tế là gì? Là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia.

Nói một cách dễ hiểu, kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế.

Cho đến những năm 90 của thế kỷ XX, lĩnh vực kinh doanh quốc tế có sự bùng nổ và lan rộng trên toàn cầu. Vì vậy, để bước ra thị trường quốc tế, ta cần chú ý các điểm như sau:

  • Sức ép giảm chi phí

Đòi hỏi công ty giảm bớt chi phí của hoạt động sáng tạo giá trị bằng việc tập trung vào việc sản xuất tiêu chuẩn hóa ở một địa điểm tốt nhất trên thế giới nhằm đạt được tính kinh tế của địa điểm và tính kinh tế của đường cong kinh nghiệm.

Sức ép giảm chi phí có thể rất lớn trong những ngành sản xuất mà giá cả là vũ khí cạnh tranh chính. Đó thường là các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu chung và khi sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng ở các nước khác nhau có xu hướng tương tự nhau. Thí dụ: đường, dầu, thép, máy tính, lốp xe ô tô… đó là những hàng hóa thông thường và có nhu cầu lớn.

Sức ép giảm chi phí cũng có thể rất lớn trong các ngành mà các đối thủ cạnh tranh chính đều ở mức chi phí thấp, hoặc công suất vượt quá khả năng tiêu dùng, hoặc những nơi mà người tiêu dùng có sức mạnh. Để giải quyết vấn đề này, các công ty thường thực hiện việc di dời sản xuất đến nơi có chi phí thấp và tung ra các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa toàn cầu để đạt được lợi ích kinh tế của đường cong kinh nghiệm.

  • Sức ép từ các địa phương

    • Sự khác biệt về sở thích và thị hiếu tiêu dùng

Sức ép lớn từ các địa phương xuất hiện khi sở thích và hiểu tiêu dùng khác nhau đáng kể giữa các quốc gia – có thể do các lý do lịch sử hoặc văn hóa. Trong những trường hợp như vậy, sản phẩm và hoặc các thông điệp quảng cáo phải được làm theo ý khách hàng để lôi cuốn sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng địa phương. Vấn đề này thường thúc đẩy các trụ sở chính uy quyền cho các công ty con thực hiện chức năng sản xuất và tiếp thị ở các quốc gia khác.

    • Sự khác biệt về cơ sở hạ tầng và tập quán truyền thống

Việc thích nghi sản phẩm đối với những tập quán và cơ sở hạ tầng của các quốc gia khác nhau có thể đòi hỏi phải giao các chức năng sản xuất cho các công ty con ở nước ngoài.

Thí dụ: hệ thống điện tử tiêu dùng ở Bắc Mỹ dựa trên cơ sở 110 vốn; trong khi đó một số nước Châu Âu, hệ thống 240 vôn là tiêu chuẩn. Do vậy, các thiết bị điện nội địa phải được thích nghi với những khác biệt của cơ sở hạ tầng.

Tập quân truyền thống cũng thường khác nhau giữa các quốc gia. Thí dụ: mọi người lái xe ở phía bên trái đường của Anh, tạo ra yêu cầu tay lái xe bên phải, nhưng ở nước láng giềng Pháp, mọi người lái xe phía bên phải, tạo ra yêu cầu tay lái xe bên trái. Ô tô phải được thích nghi để đáp ứng sự khác nhau trong tập quán truyền thống này.

    • Sự khác biệt về kênh phân phải

Chiến lược tiếp thị của một công ty phải phù hợp với những khác biệt trong kênh phân phối giữa các quốc gia. Điều này yêu cầu trụ sở chính phục trao chức năng tiếp thị cho các công ty còn hoạt động ở các quốc gia khác nhau.

Thí dụ: trong mặt hàng bột giặt, mâm tổ hợp bán Iẻ kiểm soát 65% thị trường Đức nhưng không một tổ hợp nào kiểm soát quá 2% thị trường nước láng giềng Italia. Do vậy, các tổ hợp bán lẻ có mức tiêu thụ lớn ở Đức, nhưng tương đối như ở Italia. Việc giải quyết những khác biệt hủy yêu cầu hãng bột giá sử dụng nhiều phương pháp tiếp thị khác nhau.

    • Những yêu cầu của chính phủ nước sở tại

Các yêu cầu về kinh tế và chính trị đặt ra bởi chính phủ nước sở tại có thể trở thành sức ép từ các địa phương. Đồng thời sự đe dọa của chế độ bảo hộ, tinh thần dân tộc và luật lệ địa phương tất cả đòi hỏi các hoạt động sản xuất quốc tế phải phù hợp với địa phương. 

Tuy nhiên, sức ép từ phía các địa phương hàm ý rằng công ty không thể đạt được toàn bộ lợi ích tử đường cong kinh nghiệm và tính kinh tế của địa điểm. Thí dụ, nó không thể phục vụ thị trường toàn cầu từ một địa điểm chi phí thấp, sản xuất một sản phẩm tiêu chuẩn hóa toàn cầu và tiếp thị nó trên toàn thế giới để đạt tính kinh tế về chi phí của đường cong kinh nghiệm.

Thêm vào đó, sức ép từ phía địa phương hàm ý rằng công ty không thể chuyển giao các khả năng vượt trội và các sản phẩm đặc biệt của nó từ nước này sang nước khác. Mc Donald’s cũng phải thích nghi hóa sản phẩm của nó với sự khác biệt của các quốc gia về sở thích và thị hiểu như cải tiến thực đơn của nó cho phù hợp với từng địa phương. (Thí dụ về Mc Donald’s tại Trung Quốc )

  • Các quyết định về marketing (marketing consideration)

Một số công ty thực hiện chiến lược toàn cầu sử dụng các thông điệp quảng cáo và chủ đề giống nhau để bán các sản phẩm trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nhiều công ty khác lại nhận thấy rằng các sản phẩm của họ đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ học hoặc là thay đổi trong quảng cáo cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường mục tiêu. Các sản phẩm này vẫn cần có những chiến lược marketing khác nhau để phản ảnh nền văn hóa chính trị và luật pháp hoặc kinh tế riêng biệt của các thị trường quốc gia khác nhau.

NGUỒN: Tổng hợp

.
.
.
.