ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG KIỂM TRA TÍN DỤNG

Doanh nghiệp vay vốn lưu động để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn vay sẽ được sử dụng để trang trải cho các khoản chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng,…. Vì vậy tài sản hình thành từ vốn vay và các nguồn vốn khác để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn sẽ bao gồm hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng.

Để tài trợ cho các tài sản này doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn tự có, vay vốn ngân hàng và chiếm dụng của bên thứ ba cụ thể là nhà cung cấp và khách hàng nếu doanh nghiệp được trả trước tiền hàng. Vì vậy, ta có thể kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay qua chỉ tiêu sau:

Nhu cầu vốn thực hiện SXKD = Hàng tồn kho (Mã số 141 Bảng CĐKT) + Các khoản phải thu của KH – Các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động

Nếu ngân hàng không cho vay vốn để tài trợ thuế VAT thì ta cần phải loại bỏ thuế VAT ra khỏi các khoản phải thu của khách hàng và các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động. Trong công thức trên các khoản phải thu của khách hàng và các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động được tính như sau:

Các khoản phải thu của KH = Phải thu của KH (Mã số 131 Bảng CĐKT) – Người mua trả tiền trước (Mã số 313 Bảng CĐKT)

Các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động = Phải trả người bán (Mã số 312 Bảng CĐKT) + Phải trả người LĐ (Mã số 315 Bảng CĐKT) – Trả trước cho người bán (Mã số 132 Bảng CĐKT)

Lưu ý: Khi doanh nghiệp có các khoản phải trả nhà cung cấp nhà thầu xây dựng, các nhà cung cấp máy móc thiết bị,… và các khoản trả trước cho nhà thầu xây dựng, các nhà cung cấp máy móc thiết bị,… phải loại bỏ các khoản mục phải thu và phải trả ra khỏi nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vì các khoản phải thu và phải trả này không phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong ngắn hạn.

Nếu doanh nghiệp giải ngân theo hình thức tạm ứng, tại ngày lập bảng cân đối kế toán nếu số vốn vay chưa được sử dụng thì công thức trên có thể sẽ không còn phản ánh chính xác tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp vì khi đó phần vốn doanh nghiệp vay được từ ngân hàng vẫn tồn tại dưới dạng tiền mặt.

Khi dư nợ vốn vay tại ngân hàng lớn hơn nhu cầu vốn thực hiện sản xuất kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay vào mục đích khác ngoài mục đích sản xuất kinh doanh.

Nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn để chi trả cho các khoản chi phí trả trước ngắn hạn như mua công cụ, dụng cụ, tiền thuê nhà trong nhiều tháng,… thì ta phải cộng thêm nhu khoản mục chi phí trả trước ngắn hạn (Mã số 151 Bảng CĐKT) vào nhu cầu vốn để thực hiện sản xuất kinh doanh khi kiểm tra mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Nếu ngân hàng chấp nhận tài cho doanh nghiệp vay vốn để tài trợ thuế VAT thì trong ta phải cộng thêm phần thuế VAT đầu vào tương ứng với mã số 152 Bảng CĐKT vào trong công thức trên.

ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM TRA MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VỐN VAY DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP

Mọi sự thay đổi về tài sản của doanh nghiệp trong kỳ kế toán đều được thể hiện trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy phân tích cơ cấu tài sản nguồn vốn sẽ cho ta biết được tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp.

Mục đích của việc vay vốn dài hạn của doanh nghiệp là để tài trợ tài sản dài hạn. Tuy nhiên khi doanh nghiệp vay vốn để trả trước cho nhà cung cấp máy móc thiết bị và tạm ứng cho nhà thầu xây dựng, phần tài sản này sẽ được hạch toán vào các khoản trả trước cho người bán trong phần tài sản ngắn hạn. Đối chiếu mục đích giải ngân với sự tăng giảm tài sản cố định hoặc khoản mục trả trước cho người bán ta sẽ nắm được tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. Các tình huống sử dụng vốn vay trong thực tế rất phong phú và đa dạng nên ta khó có thể khái quát chúng thành lý thuyết chung.

Ở đây chúng ta sẽ xem xét một số trường hợp phổ biến nhất:

Khi doanh nghiệp vay vốn để trả trước cho nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp máy móc thiết bị và các chi phí khác để hình thành nên tài sản dài hạn, giá trị của khoản mục tài sản “Chi phí trả trước cho người bán” trên bảng cân đối kế toán sẽ tăng rất nhiều so với khoản mục tài sản này trong các kỳ kế toán trước. Giá trị khoản mục tài sản này phải lớn hơn phần trả trước cho người bán chưa được chuyển thành tài sản dài hạn của doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán.

Ví dụ: Doanh nghiệp giải ngân 7.000 triệu đồng vốn vay và giải ngân 3.000 triệu đồng vốn tự có để trả trước cho nhà cung cấp máy móc thiết bị. Như vậy cuối kỳ kế toán nếu máy móc thiết bị vẫn chưa được doanh nghiệp nhập về, khoản mục Trả trước cho người bán trên bảng cân đối kế toán sẽ phải lớn hơn 10.000 triệu đồng.

Tuy nhiên các máy móc thiết bị và các công trình xây dựng của các nhà cung cấp này chưa được nghiệm thu phần giá trị công trình xây dựng hoặc máy móc thiết bị được thanh toán sẽ phải được thể hiện trên khoản mục tài sản “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” thuộc khoản mục “Tài sản cố định hữu hình” và phù hợp với sự biến động của khoản mục tài sản “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” trên bảng cân đối kế toán.

Ví dụ: Khi doanh nghiệp nhập khẩu các máy móc thiết bị đã được trả trước trong ví dụ trên nhưng chưa được lắp đặt. Như vậy các máy móc thiết bị này sẽ được hạch toán vào khoản mục “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang”. Cũng trong kỳ kế toán đó doanh nghiệp quyết toán và nghiệm thu nhà xưởng trị giá 30.000 triệu đồng. Giá trị khoản mục “Xây dựng cơ bản dở dang” đầu kỳ kế toán là 25.000 triệu đồng là chi phí của phần xây dựng nhà xưởng. Trong kỳ kế toán doanh nghiệp thanh toán nốt 5.000 triệu đồng bằng vốn vay cho phần nhà xưởng được nghiệm thu và thanh toán 10.000 triệu đồng cũng bằng vốn vay cho hạng mục nhà ăn của công nhân nhưng chưa được nghiệm thu. Như vậy giá trị của khoản mục “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” trên bảng cân đối kế toán đầu kỳ sẽ phải là 25.000 triệu đồng và vào cuối kỳ kế toán sẽ là 20.000 triệu đồng.

Khi doanh nghiệp giải ngân để thanh toán cho các nhà thầu xây dựng hoặc các nhà cung cấp máy móc thiết bị và quyết toán nghiệm thu máy móc thiết bị hoặc nghiệm thu công trình xây dựng, phần thanh toán và phần chi phí xây dựng cơ bản dở dang được nghiệm thu phải phù hợp với phần tăng lên của khoản mục “Nguyên giá tài sản cố định”.

Ví dụ: Cũng ví dụ trên, khi doanh nghiệp thanh toán 5.000 triệu đồng và nghiệm thu cả một phần nhà xưởng đã được hoàn thành nhưng chưa được quyết toán với giá trị thanh toán là 25.000 triệu đồng. Như vậy khoản mục “Nguyên giá tài sản cố định” trong kỳ sẽ phải tăng lên tương ứng là 30.000 triệu đồng

Tùy vào từng trường hợp sử dụng vốn vay mà ta có thể có các cách thức kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp cụ thể.

ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM TRA GIÁ TRỊ TÀI SẢN THẾ CHẤP

Trong việc tín dụng, doanh nghiệp và ngân hàng có thể sử dụng nhiều hình thức bảo đảm tiền như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba, tín chấp. Trong đó thế chấp là hình thức bảo đảm tiền vay phổ biến nhất. Doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản của bên thứ ba để thế chấp với sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản hoặc sử dụng tài sản của chính doanh nghiệp để thế chấp. Dù trong trường hợp nào khi thực hiện các thủ tục bảo đảm tiền vay,ngân hàng cũng sẽ định giá tài sản.

Giá trị định giá của tài sản thế chấp thường thấp hơn giá trị thực của tài sản thế chấp. Tuy nhiên doanh nghiệp có thể sử dụng giấy tờ giả như hợp đồng giả, biên bản nghiệm thu giả để nâng giá trị tài sản thế chấp. Vì vậy ta có thể sử dụng báo cáo tài chính hay kiểm tra sổ sách kế toán phần “Nguyên giá tài sản cố định” của doanh nghiệp để xác định giá trị thực của tài sản thế chấp.

Ví dụ: Doanh nghiệp sử dụng tài sản cố định trị giá 15.000 triệu đồng theo biên bản nghiệm thu để thế chấp vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên nguyên giá tài sản cố định của toàn doanh nghiệp thể hiện trong báo cáo tài chính và trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp trong kỳ kế toán lại chỉ tăng 11.000 triệu đồng. Như vậy, rõ ràng doanh nghiệp đã sử dụng biên bản nghiệm thu giả để tăng giá trị tài sản thế chấp.

Nhìn chung, nếu biết cách khai thác các thông tin được cung cấp từ báo cáo tài chính, đó sẽ là công cụ đắc lực giúp cho công tác kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Đây là biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong công tác kiểm toán tín dụng hiện nay. Tuy nhiên kiểm tra trên báo cáo tài chính không phải là tất cả các công việc cần thực hiện, để công tác kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay và tài sản đảm bảo tiền vay đạt hiệu quả cao nhất ta phải kết hợp kiểm tra báo cáo tài chính của doanh nghiệp và tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp.

Nguồn: Tạp chí Hỗ trợ Phát triển

.
.
.
.